Bỏ qua điều hướng
An Hà — Giá trị ở niềm tin
PHÁP LÝ & TUÂN THỦ

Khi nào bán hàng giả nhãn hiệu bị khởi tố hình sự thay vì phạt hành chính?

Ba vụ án hàng giả nhãn hiệu bị khởi tố trong tháng 8/2026 tại Phú Thọ, Bắc Ninh và Đà Nẵng đều theo cùng một điều luật: Điều 226 Bộ luật Hình sự. Vậy ranh giới giữa một quyết định xử phạt hành chính và một quyết định khởi tố bị can nằm ở đâu? Bài viết tổng hợp các ngưỡng định lượng theo quy định hiện hành.

Ngưỡng định lượng khiến hành vi bán hàng giả nhãn hiệu bị khởi tố theo Điều 226 Bộ luật Hình sự
Điều 226 quy định ba khung hình phạt với cá nhân và pháp nhân thương mại xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp.

Tháng 8/2026 ghi nhận liên tiếp các vụ khởi tố liên quan hàng giả nhãn hiệu: 156 đồng hồ mang thương hiệu Rolex, Omega tại Phú Thọ; hơn 1.000 bộ quần áo dập nhãn Gucci, Dior tại Bắc Ninh; hơn 3.600 sản phẩm giả mạo thương hiệu tại Đà Nẵng. Cả ba đều bị xử lý theo cùng một điều luật.

Với hộ kinh doanh và doanh nghiệp phân phối, câu hỏi thực tế là: ranh giới giữa bị xử phạt hành chính và bị khởi tố hình sự nằm ở đâu?

Điều luật được áp dụng

Đó là Điều 226 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bởi điểm a khoản 53 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự năm 2017, quy định về tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp.

Đối tượng điều chỉnh là hành vi cố ý xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ tại Việt Nam, mà đối tượng là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý.

Hai chi tiết cần lưu ý ngay. Thứ nhất, lỗi phải là cố ý; động cơ vụ lợi là dấu hiệu bắt buộc. Thứ hai, nhãn hiệu phải đang được bảo hộ tại Việt Nam, không phải chỉ nổi tiếng ở nước ngoài.

Ngưỡng định lượng của khung 1

Theo khoản 1 Điều 226, hành vi bị xử lý hình sự khi thuộc một trong các trường hợp sau:

  • Thực hiện với quy mô thương mại; hoặc

  • Thu lợi bất chính từ 100 triệu đồng đến dưới 300 triệu đồng; hoặc

  • Gây thiệt hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý từ 200 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng; hoặc

  • Hàng hóa vi phạm trị giá từ 200 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng.

Mức phạt của khung này: phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 500 triệu đồng, hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

Điểm nhiều người bỏ sót: các căn cứ trên là quan hệ hoặc, không phải phải thỏa mãn đồng thời. Chỉ cần rơi vào một trường hợp là đủ căn cứ xem xét trách nhiệm hình sự. Đặc biệt, "quy mô thương mại" là căn cứ độc lập, không gắn với một con số cụ thể nào trong điều luật.

Khung 2 và các tình tiết tăng nặng

Khoản 2 Điều 226 quy định mức phạt tiền từ 500 triệu đồng đến 1 tỷ đồng, hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm, khi phạm tội thuộc các trường hợp tăng nặng, trong đó có:

  • Phạm tội có tổ chức, tức nhiều người cùng tham gia, có bàn bạc, phân công nhiệm vụ và phối hợp;

  • Gây thiệt hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý từ 500 triệu đồng trở lên.

Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 200 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Pháp nhân thương mại cũng chịu trách nhiệm hình sự

Đây là nội dung mà nhiều doanh nghiệp chưa nắm rõ. Khoản 4 Điều 226 quy định pháp nhân thương mại phạm tội này bị xử lý như sau:

  • Phạt tiền từ 500 triệu đồng đến 2 tỷ đồng khi thực hiện hành vi tương ứng khung 1, với các ngưỡng riêng dành cho pháp nhân;

  • Phạt tiền từ 2 tỷ đồng đến 5 tỷ đồng, hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 02 năm, khi thuộc trường hợp quy định tại khoản 2;

  • Hình phạt bổ sung: phạt tiền từ 100 triệu đồng đến 500 triệu đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

Với một doanh nghiệp phân phối, khả năng bị đình chỉ hoạt động đến 02 năm thường là rủi ro lớn hơn nhiều so với khoản tiền phạt.

Chủ thể chịu trách nhiệm

Chủ thể của tội này là người từ đủ 16 tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hình sự, hoặc pháp nhân thương mại đủ điều kiện chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 75 Bộ luật Hình sự.

Yếu tố quyết định trong thực tế: chứng minh được nguồn gốc

Nhìn vào ba vụ án tháng 8/2026, một chi tiết lặp lại ở cả ba: hàng hóa không có hóa đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc xuất xứ.

Chi tiết này quan trọng vì Điều 226 yêu cầu lỗi cố ý. Người bán chứng minh được đã mua hàng từ nguồn hợp pháp, có hóa đơn, hợp đồng và giấy ủy quyền phân phối, sẽ ở vị thế hoàn toàn khác so với người không xuất trình được gì. Ngược lại, không có chứng từ đồng nghĩa mất lập luận tự bảo vệ mạnh nhất, đồng thời khiến cơ quan chức năng không thể lần ngược lên nhà cung cấp, nên trách nhiệm dồn về người đang giữ hàng.

Việc đánh giá lỗi và quyết định xử lý thuộc thẩm quyền cơ quan tố tụng. Bài viết này trình bày quy định pháp luật, không thay thế tư vấn pháp lý cho từng trường hợp cụ thể.

Doanh nghiệp cần chuẩn bị gì

  1. Kiểm tra tình trạng bảo hộ nhãn hiệu tại Việt Nam trước khi nhập hoặc phân phối hàng mang thương hiệu nước ngoài. Đây là bước đầu tiên và ít tốn kém nhất.

  2. Lưu trữ đầy đủ chứng từ đầu vào theo từng lô: hóa đơn mua vào hợp lệ, hợp đồng hoặc đơn đặt hàng, tờ khai hải quan với hàng nhập khẩu, giấy ủy quyền phân phối.

  3. Gắn dữ liệu truy xuất theo lô. Hóa đơn chứng minh giao dịch với người bán; dữ liệu truy xuất gắn với chính lô hàng, cho biết hàng đi qua những khâu nào. Hai loại dữ liệu này bổ sung cho nhau khi cần chứng minh.

  4. Áp dụng quy trình như nhau cho kênh online. Kinh doanh qua mạng xã hội, sàn thương mại điện tử và livestream phải tuân thủ đầy đủ quy định pháp luật như bán hàng truyền thống.

Bối cảnh pháp lý đang siết chặt thêm. Theo Thông tư 31/2026/TT-BCT, từ ngày 1/1/2027, truy xuất nguồn gốc phải được hoàn tất trước khi hàng hóa thuộc diện áp dụng ra thị trường. Khoảng trống "hàng không giấy tờ" sẽ ngày càng khó tồn tại.

Câu hỏi thường gặp

Bán vài sản phẩm giả nhãn hiệu có bị khởi tố không?

Điều 226 đặt ra các căn cứ định lượng về thu lợi bất chính, thiệt hại và giá trị hàng vi phạm, bên cạnh căn cứ về quy mô thương mại. Trường hợp không đạt các ngưỡng này thường được xử lý hành chính. Việc xác định thuộc thẩm quyền cơ quan có thẩm quyền dựa trên hồ sơ cụ thể.

Không biết hàng là giả thì có bị xử lý hình sự không?

Điều 226 yêu cầu lỗi cố ý và động cơ vụ lợi là dấu hiệu bắt buộc. Vì vậy khả năng chứng minh mình mua từ nguồn hợp pháp có ý nghĩa rất lớn, và chứng từ là công cụ chứng minh chính.

Nhãn hiệu nổi tiếng thế giới nhưng chưa đăng ký tại Việt Nam thì sao?

Điều 226 áp dụng với nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ tại Việt Nam. Tình trạng bảo hộ tại Việt Nam là yếu tố cần kiểm tra, không suy đoán từ mức độ nổi tiếng của thương hiệu.

Công ty có bị xử lý hình sự không hay chỉ cá nhân?

Pháp nhân thương mại cũng thuộc diện chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 4 Điều 226, với mức phạt tiền đến 5 tỷ đồng và khả năng bị đình chỉ hoạt động có thời hạn đến 02 năm.


Căn cứ: Điều 226 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bởi điểm a khoản 53 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự năm 2017; Điều 75 Bộ luật Hình sự về điều kiện chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại.

TỪ KHÓAđiều 226hàng giả nhãn hiệuxử lý hình sựsở hữu công nghiệppháp nhân thương mạichứng từ nguồn gốc
Ban Truyền thông An Hà
Đơn vị phát ngôn chính thức của Công ty CP Giải pháp Chống giả An Hà. Liên hệ báo chí: contact@veritrace.vn
ZaloM
☎ Gọi ngayNhận tư vấn miễn phí
Cho phép đo lượt truy cập?

Chúng tôi dùng Google Analytics để biết trang nào được xem nhiều và cải thiện nội dung. Không dùng cho quảng cáo, không bán dữ liệu. Chi tiết tại Chính sách bảo mật.